GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HUYỆN CƯ M'GAR

CHÙA HOA NGHIÊM

02 Lê Lai - Thị Trấn Quảng Phú, Huyện Cư M'gar, Tỉnh Đăk Lăk.

Cập nhật lúc 25-02-2016 (GMT+7) -- Xem: 667

Thờ Phật, Lạy Phật, Cúng Phật

Đức Phật là bậc có đủ ba đức-tánh quý-báu là Bi, Trí, Dũng. Ba đức-tánh cấy là căn-bản mà một con người muốn được toàn thiện, toàn mỹ, toàn chân, không thể thiếu được. Một bậc siêu phàm xuất chúng, có những lời dạy quý báu, những cử-chỉ cao-thượng, những hành-động sáng-suốt, một đời sống gương-mẫu như Phật xứng đáng để chúng ta kính thờ lễ lạy và quan trọng hơn là nhờ nương tựa Ngài mà chúng ta tu học và phát huy những giá trị đạo đức của bản thân để sống an lành và hạnh phúc.


Xưa nay, những bậc có công ơn lớn đối với quốc-gia, xã-hội đều được tôn-sùng, ngưỡng-ngộ.  Sự tôn-sùng, ngưỡng-mộ này do nhiều nguyên-nhân, nhưng nguyên-nhân chính là lòng tri-ân và sự mong-muốn được noi theo gương sáng. 
Tục-ngữ ta có câu “Ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây, uống nước phải nhớ người đào giếng”.  Lòng tri-ân là một đức-tánh quý-báu mà những người có chút công-bằng không thể thiếu được.  Một xã-hội gồm những phần tử phi-ân bội-nghĩa, ăn cháo đá bát, không thể tồn-tại được lâu-dài, vì nó làm chán-nản những kẻ có lòng, và làm khô cạn nguồn hy-sinh.  Vả lại, nếu con người thấy đều tốt, người hiền mà chẳng hăm-mộ, thấy đều xấu, người ác mà không bài-xích, tránh xa, thì con người ấy là người thiếu căn-bản đạo-đức, thiếu mầm thiện, khó có thể tiến bộ. 
Vì những lý-do trên, ta thấy trên thế-giới bất luận ở phương trời nào, dân-tộc nào, thời đại nào, hễ kẻ có công-đức với làng xóm, thì được làng xóm tôn thờ, kẻ có công-đức với quốc-gia, dân-tộc thì được quốc-gia, dân-tộc tôn-thờ, kẻ có công-đức lớn với nhân-loại, thì được nhân-loại sùng-thượng. 
Sự thờ cúng trong các tôn-giáo cũng không ra ngoài những lý-do đã kể trên.  Nhưng ở các tôn-giáo, sự thờ cúng có tánh-cách thường-trực và thiết-tha hơn, vì các vị giáo-chủ là những bậc có công-ơn lớn đối với nhân-loại và là những gương sáng mà tín-đồ cần đặt luôn luôn ở trước mắt để soi sáng đời mình.  Trong các vị giáo-chủ, thì đức Phật là vị được nhiều tín-đồ sùng-mộ nhất.  Sự sùng-mộ ở đây biểu hiện trong sự thờ, lạy và cúng Phật. 


I.  THỜ PHẬT 

1)      -  Phật là bậc đáng tôn thờ. 
- Phật là những bậc đã dày công tu-luyện phước-đức và trí-huệ, cho nên đã được hoàn-toàn sáng-suốt và có đầy-đủ đức-hạnh cao-quý.  Các Ngài đã dùng cái đức và trí ấy để dắt-dẫn chúng-sanh ra ngoài biển khổ sanh-tử luân-hồi, và đưa đến địa-vị sáng-suốt an-vui.  Trong công-việc độ sanh ấy, các Ngài lại không bao giờ thối-chuyển ngã lòng mặc dù gặp trở lực khó-khăn.  Các Ngài đã nguyện độ cho toàn-thể chúng-sanh cho đến khi nào không còn một chúng-sanh nào để độ nữa mới thôi.  Thật là đúng với câu “Tự giác, giác tha, giác hạnh viên-mãn. 
Một bậc có đủ ba đức-tánh quý-báu là Bi, Trí, Dũng, ba đức-tánh căn-bản mà một con người muốn được toàn thiệt, toàn mỹ, toàn chân, không thể thiếu được.  Một bậc siêu phàm xuất chúng, có những lời dạy quý báu, những cử-chỉ cao-thượng, những hành-động sáng-suốt, một đời sống gương-mẫu như Phật mà chúng ta không tôn thờ, thì còn tôn thờ ai nữa ? 

2)      - Nhưng chúng ta phải thờ Phật như thế nào mới đúng ý-nghĩa.  

- Như trên đã nói, chúng ta thờ Phật là để tỏ lòng tri-ân của chúng ta đối với một vị đã có ân-đức lớn với nhân-loại.  Chúng ta thờ Phật là để có luôn luôn ở trước mặt một gương-mẫu sáng-suốt trọn lành để khuôn rập tư-tưởng, lời nói và hành-động của chúng ta được chân, thiện, mỹ như Phật vậy.  Người ta thưòng nói : “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.  Chúng ta thời Phật là muốn luôn luôn được có bên mình cái ngọn đèn trí-huệ của Ngài, cái hương từ-bi của Ngài để được sáng lây, thơm lây, chứ không phải chúng ta có mục-đích cầu cạnh Ngài để Ngài ban phước trừ họa, để Ngài che-chở cho chúng ta mua may bán đắt một cách một cách bất lương, hay để chúng ta dựa vào thế-lực của Ngài, tha-hồ làm những điều bất chính. 
Nếu chúng ta thờ Ngài với mục-đích sai lạc như vừa nói ở trên, thì không những chúng ta đã phỉ-báng đức Phật, mà chúng ta còn tự tạo tư-tưởng không tốt cho chúng nữa. 

3)      - Phải thờ đức Phật nào?  

- Ðức Phật nào cũng có nghĩa Vô-lượng-quang, vô-lượng-thọ bao-la cùng khắp và công-đức tu-hành, phước trí vô-lượng vô-biên cả; nên hễ thờ một đức Phật, tức là thờ tất cả các đức Phật. 
Nhưng chúng ta cũng nên tùy theo thời-kỳ giáo-hóa của mỗi đức Phật và pháp-môn tu-hành mà thờ cho xứng lý, hợp cơ.  Thí-dụ như hiện nay, chúng ta ở vào thời-kỳ giáo-hóa của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, thì lẽ cố-nhiên, chúng ta phải thờ Ngài trước hết. 
Nếu tín-đồ nào tu về “Tịnh-độ-tông”, chuyên về pháp-môn “trì danh niệm Phật” để cầu vãng sanh, thì tín-đồ ấy phải thờ đức Phật A-di-đà. 
Hoặc giả, nếu Phật-tử muốn thờ đủ tất cả các đức Phật trong ba đời, thì nên thời đức Thích-Ca, đức A-di-đà và đức Di-Lặc, gọi là thờ “Tam-thế Phật”. 

4)      - Cách thức thờ Phật. 

- Như vậy trong nhà tín-đồ, nếu muốn thờ tượng Phật, thì nhiều nhất là ba vị.  Và nên nhớ rằng, trong khi thờ Tam-thế Phật, phải sắp-đặt chung một bàn.  Nếu tượng lồng kiến thì nên treo ngay-thẳng, không được cái cao, cái thấp, cũng không được cái to, cái bé; còn như tượng gỗ, tượng đồng, tượng sành, thì để ngang hàng đồng bực, không nên để từng trên, cấp dưới Bàn thờ Phật phải đặc chính giữa nhà, bàn thờ ông bà, thì nên thờ một bên.  Nếu nhà lầu thì thờ Phật ở từng trên.  Tại bàn thờ Phật không nên để tạp vật nào khác, ngoài bình bông, lư hương, chân đèn và dĩa quả.  Những vật này, mỗi ngày đều săn-sóc lau quét sạch sẽ luôn. 
Lần đầu tiên thỉnh tượng Phật thờ, tín-đồ phải làm lễ thượng tượng, cũng gọi là lễ an-vị Phật.  Lễ này không bắt-buộc phải tổ-chức linh-đình, chỉ nên làm một cách đơn-giản, nhưng không kém vẻ trang-nghiêm và tinh-khiết.  Muốn được hai đặc-điểm ấy, chủ nhà phải dọn mình sạch-sẽ : ăn chay, giữ giới và mời thêm thiện-hữu tri-thức đến hộ-niệm một thời kinh. 
Và bắt đầu từ ngày lễ an-vị Phật trở đi, tất cả mọi người trong nhà, mỗi ngày vô ra trông thấy tượng Phật, nên nghĩ nhớ đến đức hạnh cao-cả của Ngài mà chỉnh-đốn lại thâm tâm mình.  Mỗi ngày đều lo cải thiện lại sự cư-xử với nhau, đối nội cũng như đối ngoại, phải luôn thấm-nhuần tinh-thần từ-bi, bác-ái và bình-đẳng.  Như thế mới xứng-đáng với danh-nghĩa của một gia-đình có thờ Phật. 
Thờ-phụng lâu năm, tượng Phật bị hư rách, không thể sơn phết hay sửa-chữa lại được, thì nên thay đổi tượng mới.  Khi có tượng mới rồi thì tượng cũ phải dâng vào chùa để chờ dịp nhập tháp, chứ không nên bạ đâu bỏ đó, mà mang tội. 

II.  LẠY PHẬT 

1. - Ý-nghĩa lạy Phật. 

- Ngày xưa, khi đức Phật còn tại-thế, các đệ-tử từ vua quan cho đến dân-chúng, mỗi lần được may-mắn gặp đức Phật Thích-Ca, đều cuối xuống ôm chân Phật và đặt trán mình lên chân Ngài để tỏ lòng ngưỡng-mộ, tôn thờ một bậc Tối-thượng : Bi, Trí siêu phàm.  Cử chỉ ấy là một cử-chỉ vô cùng khiêm-tốn, nhu-thuận và hoàn toàn tin-cậy đối với đức Phật.
Sau khi Phật nhập-diệt, toàn-thể tín-đồ vẫn xem Ngài như còn tại-thế, và cái cử-chỉ cúi xuống ôm chân Phật vẫn còn tiếp-nối tồn-tại cho đến ngày nay và muôn ngàn năm sau.  Cái cử-chỉ ấy có công-dụng làm cho tín-đồ bao giờ cũng hình-dung như đức Phật còn ngồi trước mặt mình để chứng-giám cho tấm lòng thành-kính tha-thiết của mình.     
                  
2. - Phải lạy như thế nào mới đúng ý-nghĩa. 

            - Ðể cho đúng với ý-nghĩa trên, khi lạy Phật phải quỳ xuống, ngửa hai bàn tay ra như đang nâng hai chân Phật và cúi lưng xuống, đặt trán mình lên trên hai lòng bàn tay. 
            Trước khi lạy Phật, phải dọn mình cho sạch-sẽ ; rửa mặt, súc miệng, lau tay chân, thay y-phục và mặc áo tràng.  Xong xuôi, mới đốt hương ra trước điện Phật, đứng ngay thẳng, tay chắp để trước ngực, mắt nhìn tượng Phật, tâm tưởng đến các tướng tốt và những đức-hạnh cao-cả của Ngài, và tỏ-bày nguyện-vọng chân-chánh của mình, xá rồi cắm hương vào lư, đánh tiếng chuông và lạy Phật 3 lạy. 
            Lễ Phật như thế mới đúng phép ; trong kinh gọi là “thân tâm cung-kính lễ”, nghĩa là thân thì hăng-hái tề-chỉnh, nghiêm-trang, tâm thì hớn-hở vui-mừng và hết lòng thành-kính như gặp được Phật còn tại-thế. 
            Trái lại, nếu chúng ta lễ Phật với lòng ngã-mạn (trong kinh gọi là ngã-mạn lễ), hay với tâm cầu danh (trong kinh gọi là danh lễ), thì đã không có kết quả gì, mà còn mang thêm tội. 
            Ngã-mạn lễ là khi lạy Phật mà trong tâm còn ngạo-nghễ, kiêu-căng, năm vóc (đầu, hai tay, hai chân) không sát đất, đứng lên cúi xuống một cách cẩu-thả, qua-loa cho có chuyện. 
            Cầu danh lễ là khi thấy có đông người thì miệng liền to tiếng dài hơi xưng danh-hiệu Phật, thân lại siêng-năng lạy không ngừng nghỉ, có ý để được mọi người khen ngợi.  Trái lại khi không có người thì thân lại biếng-nhác, tâm lại giải-đãi, không muốn lễ-bái gì cả. 
            Hai cách lễ-bái trên này rất giả-dối, vậy những ai muốn tiến trên đường đạo, phải nên tránh ngay. 

3. - Bốn phép lạy (thuộc về lý). 

-  Về phương-diện Lý, thì có 4 phép lễ. 

a)  Phát trí thanh-tịnh lễ
            Trong phép này, người hành lễ hành phải thấu suốt rằng cảnh-giới của chư Phật, đều tùy tâm hiện-bày, nên lạy một đức Phật, tức là lạy tất cả chư Phật, lạy một lạy tức là lạy tất cả Pháp-giới, vì Pháp-thân cửa Phật dung-thông.           
            b) Biến nhập pháp-giới lễ 
            Trong phép này, người hành-lễ phải tự quán than, tâm cùng tất cả các pháp, từ hồi nào đến giờ đều không rời pháp-giới.   
            c) Chánh quán lễ 
            Trong phép này, người hành-lễ lạy đức Phật ngay nơi tự tâm của mình, chứ không duyên với đức Phật nào khác, vì tất cả chúng sanh từ xưa đến nay, đều sẵn có Phật-tánh viên-mãn, bình-đẳng và chân-giác.    
            d) Thật-tướng bình-đẳng lễ 
            Trong phép lễ này, người hành lễ không thấy có tự, có tha; người và mình là một, phàm và thánh nhứt như; thể và dụng không hai.  Do đó, Ngài Văn-Thù Sư-lợi Bồ-tát có nói: “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch”, nghĩa là người lạy và đấng mình lạy, thể-tánh đều vắng-lặng.  Như thế mới thấu-đáo và hợp lý Bát-nhã. 
            Bốn cách lễ này, lý cao khó nghĩa bàn, nếu chẳng phải là bực thượng-căn thượng-trí, thì không thấu nổi và khó làm theo được. 

III.  CÚNG PHẬT 

            Cúng Phật là nói tắt, nói cho đủ là cúng-dường Tam-bảo : Phật, Pháp, Tăng.  Cúng-dường có nghĩa là cung-cấp và nuôi-dưỡng. 

1)      Ý-nghĩa về cúng Phật. 

Có người sẽ hỏi tại sao đức Phật đã là bất sanh, bất diệt mà lại còn phải cung-cấp, nuôi-dưỡng gì nữa? 
Thật ra, đức Phật đã thoát ra ngoài vòng sanh, diệt thì đâu còn hạn cuộc trong sự ăn uống.  Nhưng, đây chỉ là một hình-thức để ngụ ý rằng, mặc dù Phật đã nhập diệt lâu rồi, nhưng đối với chúng ta, bao giờ cũng xem như Ngài còn tại thế.  Xưa, các đệ-tử, các đàn-na thí-chủ đã cúng-dường Ngài như thế nào, nay chúng ta vẫn tiếp-tục cái cử-chỉ ấy.  Sự cúng-dường này làm cho chúng ta gần với Phật, có cảm tưởng như bao giờ cũng ở bên cạnh Phật.  Cũng nhơn sự thờ-phụng, lễ-bái, cúng-dường này mà chúng ta được kết duyên lành với Phật, hình-dung rõ-rệt được cuộc đời của Ngài để quyết noi theo bước chân của Ngài.

2)      Phải cúng Phật với những gì (về sự). 

Vẫn biết rằng chúng ta nên cúng-dường Phật để hình-dung như Ngài còn tại thế, nhưng nếu chúng ta, mỗi khi cúng Phật, lại bày-biện đủ mọi thức ăn uống, nào yến-tiệc cỗ-bàn linh-đình thì thật là phí của, phí công mà lại còn làm sai-lạc ý-nghĩa sâu-xa của sự cúng Phật. 
Vậy, muốn cúng Phật đúng ý-nghĩa thì chỉ nên dùng hương thơm, đèn sáng, hoa tươi trái tốt, nước trong và đôi khi thêm cơm trắng là đủ. 

3)      Năm món diệu-hương để cúng Phật. 

Ðoạn trên là nói về Sự, về hình-tướng bên ngoài khi cúng Phật.  Còn về phương-diện Lý, thì phải dùng năm món diệu-hương để cúng Phật như sau: 
a. Giới hương.  – Pháp-thân của Phật rất thanh-tịnh, nếu về mặc Sự, chúng ta đã dùng hương trầm đốt cúng, thì về mặt Lý, chúng ta cũng phải trì-giới cho trang nghiêm, để lễ cúng-dường được thanh-tịnh về đủ cả Sự và Lý. 
b. Ðịnh-hương.  – Thân tâm chúng ta bị mê-nhiễm và thường loạn động trong mọi hoàn-cảnh.  Nếu để buông trôi mãi trong tình trạng ấy, thì chúng ta chẳng tu-hành gì được.  Vậy hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây, hằng sát-na chúng ta phải cố-gắng tập định-tỉnh tâm hồn, đừng để cho những ý nghĩ, hành-động xấu-xa xâm-chiếm tâm-hồn và làm cho chúng ta phải loạn động.  Làm cho tâm-tư lắng xuống, như thế gọi là định hương cúng Phật. 
c. Huệ-hương.  – Huệ hương cúng Phật là lúc nào cũng phải lưu tâm vào ba món sáng tỏ.  Văn huệ là lắng nghe những lời giáo hóa quý báu của chư Phật và Thánh-hiền tăng ; tư huệ là đem những lời giáo-hóa quý báu nói trên ra suy-xét, nghiền-ngẫm biết thế nào là phải, thế nào là quấy, cái nào là chân-thật, cái nào là luống-dối để khỏi lầm-lạc vào đường tà ; tu huệ là quyết tâm thực-hành những điều mình cho là phải, trừ bỏ những điều mình cho là trái, thực-hiện đúng-đắn giáo lý sáng-suốt của đức Phật. 
d. Giải-thoát hương.  – Giải-thoát hương cúng Phật là quyết tâm phá trừ ngã-chấp, nguồn-gốc của bao sự đau-khổ luân-hồi.  Chúng ta phải luôn luôn quán vô-ngã, không nhận chiếc thân tứ đại này là mình, cũng không nhìn cái nghiệp-thức phân-biệt là mình, để được thoát-ly ra ngoài vòng sanh tử luân hồi.
e. Giải-thoát trí kiến hương.  – Chúng ta đã biết quán vô-ngã để phá-trừ ngã-chấp thì được giải-thoát, song vẫn còn “Pháp-chấp” ràng-buộc, nên chưa đến được cảnh-giới tự-tại, vô-ngại như Phật.  Còn Pháp-chấp nghĩa là còn thấy các pháp như : đất, nước, gió, lửa là có thật ; còn thấy vui, buồn, sướng, khổ là có thật.  Khi nào chúng ta thể-nhận được rằng tứ-đại sở dĩ in tuồng có thật là vì chúng ta còn ở trong nghiệp người, chứ đối với các loài khác, như cá chẳng hạn, thì nước đâu phải là nước như chúng ta quan niệm, mà chính là lâu-đài, nhà cửa ; đối với loài mọt, thì gỗ đâu phải như chúng ta quan niệm, mà là những thức ăn và nhà ở ; cho đến vui, buồn, sướng, khổ đều là đối-đãi với nhau mà sanh ra.  Vậy thì Pháp cũng như Ngã, đều là giả-dối, không có thật, mà chỉ là những danh-từ suông mà thôi.  Luôn luôn quán như thế để được giải-thoát ra khỏi sự chấp Pháp, như thế gọi là “Giải-thoát tri-kiến hương” cúng Phật.     
      
4)      Cúng-dường Phật-bảo. 

Pháp-bảo là các pháp của Phật đã giảng-dạy, để cho chúng-sanh y theo đó mà tu-hành.  Muốn cúng-dường Pháp-bảo, trước hết chúng ta phải học kinh, luật, luận và nghiên-cứu giáo-lý để nhận-định thế nào là Pháp-bảo, là chánh-giáo.  Nếu chúng ta có học thực rộng thì phải nghĩ đến việc phiên-dịch các kinh-điển ngoại-ngữ ra Việt-ngữ để hoàn-thành một bộ Tam-tạng Việt-Nam, chúng ta cũng có thể giúp vào hoằng-pháp lợi-sanh bằng sự diễn-giảng hay sáng-tác những vấn-đề có liên-quan đến Phật-pháp.  Nếu chúng ta có tài-chánh thì nên xuất tiền ra ấn-tống hay xuất-bản kinh-điển để phổ-thông Pháp-bảo.  Những việc làm như trên đều là cúng-dường Pháp-bảo cả. 

5)      Cúng-dường Tăng-bảo. 

Nếu chúng ta đã thành tâm thờ Phật, thì tất-nhiên chúng ta cũng phải kính-trọng Tăng.  Chư Tăng đã thay Phật mà truyền giáo-lý của Ngài lại cho chúng ta, lẽ nào chúng ta lại làm ngơ không biết đến ?  Chúng ta không nên phân-biệt Tăng ở xứ nào, chùa nào, hay phái nào.  Vị Tăng nào có đủ giới-đức, chúng ta cũng sẵn lòng cung-phụng cả, như thế gọi là cúng-dường Tăng-bảo. 

 
I. LỢI ÍCH CỦA SỰ THỜ, LẠY, VÀ CÚNG PHẬT 

            Như các đoạn trên đã nói, chúng ta thời lạy và cúng Phật là do lòng tri-ân sâu-xa của chúng ta đối với bậc đã hy-sinh tất cả cho hạnh-phúc vĩnh cữu của chúng sanh ; lý do thứ hai của sự thờ lạy và cúng ấy là để chúng ta luôn luôn có trước mắt, trên đầu chúng ta, một cái gương-mẫu hoàn-toàn chân, thiện, mỹ, để noi theo. 
            Sự thờ, lạy và cúng Phật, nếu thực-hành một cách thành tâm, thiện chí và đúng ý-nghĩa, thì sẽ đem lại cho người thực-hành rất nhiều lợi-ích trong hiện-tại và vị-lai: 
            1.  – Trong hiện-tại, mỗi chúng ta và gia-đình chúng ta bao giờ cũng như sống trông bầu không-khí xán-lạn, trong ảnh-hưởng tốt-lành, đạo-vị của chư Phật.  Chúng ta luôn luôn sống trong nghiêm-chỉnh, trong lễ-nghi, trên thuận dưới hòa, vì mỗi ý nghĩ, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói của chúng ta đều được đôi mắt sáng-suốt của đức Phật soi xuống.  Chúng ta không dám sống bừa-bãi, làm xằng, nghĩ quấy khi đức Phật đang ngự-trị trong gia-đình và trong lòng mỗi chúng ta.  Chỉ những tâm hồn trống rỗng, không tin-tưởng, không tôn thờ một vị thiêng-liêng Cao-cả nào, mới dễ sa-ngã, trụy-lạc. 
            Cho nên trong gia-đình, nếu muốn có hạnh-phúc trong hiện-tại, muốn sống một đời có ý-nghĩa, muốn con em đừng bê-tha, trụy-lạc, thì người gia-chủ nên thiết bàn Phật, để ngày ngày lễ bái và cúng dường Ngài và tập cho con em sống một đời sống hiền-lương có đạo-vị.    
            2.  – Khi lâm-chung, nghiệp lành mà chúng ta đã huân-tập trong hằng ngày sẽ cảm ứng đến lòng từ-bi vô hạn của chư Phật và Bồ-tát.  Do “luật đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, chư Phật và Bồ-tát sẽ phóng quang đến tiếp dẫn giác-linh chúng ta về cõi Tịnh-độ an vui, tự-tại. 

II. KHUYÊN PHÁT TÂM CHÁNH TÍN TRONG SỰ THỜ, LẠY VÀ CÚNG PHẬT, PHÁP, TĂNG 

            Muốn có được kết-quả tốt đẹp như trên, chúng ta phải phát tâm chánh-tín.  Nếu thờ, lạy và cúng dường Tam-bảo một cách sai lạc thì không những không có ích-lợi gì cho ta mà lại còn mang thêm tội, và trôi lăn mãi trong cảnh sanh-tử luân-hồi. 
            Chúng ta phải tin-tưởng một cách mạnh-mẽ rằng: 
            1. – Ðức Phật là bực hoàn-toàn giác-ngộ siêu sanh, thoát tử, có năng-lực độ thoát chúng-sanh khỏi nẻo luân hồi, và xứng đáng làm thầy chúng ta trong ba cõi.  Vì thế nên chúng ta thời Ngài. 
            2. – Phật-pháp là phương thuốc thần-diệu, trừ được tất cả nguyên-nhân đau khổ của chúng-sanh ; vì thế cho nên chúng ta thờ Phật-pháp.
            3. – Chư Tăng, nếu có đủ giới đức thanh tịnh, là những Thầy sáng, bạn lành của chúng ta.  Vì thế, chúng ta kính thờ, thân cận các Ngài để học hỏi đường lối tu hành.   
            4. – Tất cả chúng-sanh đều có Phật-tánh sáng-suốt, nếu chí tâm tu tập theo Phật-pháp thì chắc-chắn sẽ thành Phật. 
            5. – Lý nhân-quả không hề sai chạy, nếu tạo nhân lành thì hưởng quả tốt.  Trong các nhân lành, không có nhân lành nào thù-thắng hơn là nhân “thờ Phật, lạy Phật và cúng dường Tam-bảo”, đủ Sự và Lý.  Vẫn biết rằng thờ, lạy và cúng đủ cả hai phương-diện Sự và Lý là khó, nhưng chung-quanh chúng ta, ở trong thế-giới này sẵn có vô-lượng vô-biên Kim-cang Bồ-tát và Hộ-pháp thần vương, đồng phát tâm chánh-tín thờ cúng Phật, thì lo gì công của chúng ta không tròn, quả của chúng ta không mãn ?
HT. Thích Thiện Hoa

Ý kiến phản hồi

Xin vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu